Bộ quần áo Clare kiếm về cho Hoàng là một chiếc áo vải thô màu nâu đất và một chiếc quần cùng màu, ngắn cũn cỡn đến tận mắt cá. Hắn không dám hỏi cô kiếm ở đâu ra. Nhìn cái dây phơi trống trơn của một ngôi nhà ven đường lúc nãy, hắn đoán được.
– Đẹp chưa? – Hắn dang tay xoay một vòng.
– Đỡ chướng mắt hơn. – Clare đáp, chẳng buồn quay lại.
– Thế giờ mình đi đâu?
– Về trụ sở.
– Trụ sở? – Hoàng nhướng mày. – Nghe oách thế. Trụ sở của cái gì?
– Đến rồi khắc biết.
Chiếc áo phông, quần bò và đôi giày thể thao được cuộn chặt trong một cái bọc vải, kẹp dưới nách hắn. Chiếc điện thoại thì hắn nhét vào túi quần. Pin còn mười hai phần trăm, còn sóng thì từ lúc bước qua cánh cửa đã mất sạch.
Trời hửng sáng thì hai người đến nơi. Cái "trụ sở" nghe oách ấy hóa ra là một cối xay gió bỏ hoang nằm bên bờ một con kênh cạn, cách tường thành phía xa chừng nửa canh giờ đi bộ. Cánh quạt gãy mất hai, cái còn lại treo lủng lẳng, kêu cót két mỗi khi gió thổi. Clare gõ vào cánh cửa gỗ ba tiếng ngắn, hai tiếng dài.
Cánh cửa bật mở. Hai cái đầu nhỏ thò ra, rồi hai đứa trẻ lao ra như hai viên đạn.
– Chị Clare! Chị về rồi!
– Bọn em tưởng chị bị tóm rồi!
– Thì bị tóm rồi đấy. – Clare xoa đầu cả hai đứa. – Rồi thoát. Như mọi lần.
Đứa lớn hơn chắc chừng mười hai tuổi, gầy nhom, tóc cắt lởm chởm như bị gặm, đôi mắt đen láy láo liên. Đứa nhỏ hơn chỉ chừng chín, mười tuổi, má phúng phính, thiếu một chiếc răng cửa. Cả hai cùng mặc những bộ quần áo một màu xám bạc vá chằng vá đụp.
– Giới thiệu với ngươi. – Clare hất cằm. – Đây là Dos, kia là Tres. Hai thằng đệ của ta.
– Dos với Tres? – Hoàng nhìn hai đứa. – Tên gì mà lạ thế?
– Đặt theo thứ tự nhặt về. – Clare nhún vai. – Đứa thứ hai, đứa thứ ba.
– Thế đứa thứ nhất đâu?
– Là ta.
Hoàng định nói gì đó, rồi lại thôi. Có những câu chuyện không cần hỏi thêm.
Dos và Tres thì đã quên béng chị đại của chúng. Hai đứa đứng trân trân nhìn Hoàng từ đầu đến chân, rồi dừng lại ở cái bọc vải kẹp dưới nách hắn, nơi một góc áo phông in chữ đang lòi ra.
– Anh… anh là người bên ngoài thật à? – Tres lắp bắp.
– Sao em biết?
– Áo anh có chữ! Chữ to tướng! Ở đây không ai mặc áo có chữ cả!
Thế là xong. Suốt cả buổi sáng hôm ấy, Hoàng bị hai đứa nhóc vây chặt trong cối xay gió, tra hỏi kĩ hơn cả chú công an ở đồn. Bên ngoài có gì ăn? Có phải bên ngoài người ta đi trên những cỗ xe sắt không cần ngựa kéo? Có thật là ở bên ngoài không ai có năng lực không? Thế thì đánh nhau bằng gì? Cái hộp phát sáng kia là gì, sao chạm vào nó lại hiện ra hình?
Hoàng bật thử đèn pin điện thoại cho chúng xem. Hai đứa hét lên, Dos lăn ra đất, Tres trốn ra sau lưng Clare. Rồi chúng lại bò ra, xin bật lại. Lần nữa. Lần nữa. Cho đến khi Hoàng phải giấu biệt cái điện thoại đi vì pin chỉ còn tám phần trăm.
Clare ngồi trên một bao tải cũ ở góc phòng, vừa gặm mẩu bánh mì khô vừa nhìn ba người với ánh mắt nửa chán nản, nửa buồn cười. Hoàng để ý, đó là lần đầu tiên hắn thấy cô cười.
Đến trưa, khi hai đứa nhóc đã hỏi cạn mọi thứ có thể hỏi về bên ngoài, câu chuyện bắt đầu quay về bên trong.
– Mà chị Clare bị nhốt ở tầng mấy? – Dos hỏi, miệng nhồm nhoàm khoai nướng.
– Tầng 1. Chỗ cho bọn tép riu.
– May đấy. – Tres rùng mình. – Tầng sâu hơn là toàn quái vật.
– Quái vật? – Hoàng ngẩng lên.
Tres lập tức ngồi thẳng lưng, mắt sáng rỡ. Rõ ràng đây là chủ đề mà thằng bé thuộc làu, và nó đã chờ cả buổi sáng để được đến lượt mình kể chuyện cho người bên ngoài nghe.
– Anh không biết à? Cái hầm ngục dưới tòa thành ấy có sáu tầng. Càng xuống sâu thì giam càng nguy hiểm. Tầng 1 là bọn ăn cắp vặt, tầng 2, tầng 3 là bọn giết người, tầng 4, tầng 5 là bọn có năng lực ghê gớm. Còn tầng 6…
Thằng bé hạ giọng, liếc nhìn ra khung cửa sổ như sợ có ai nghe thấy.
– Tầng 6 chỉ giam đúng một người. Một mụ yêu quái tà ác lắm, bị bắt giam từ mười tám năm trước. Không ai biết mặt mụ, không ai biết mụ đã làm gì. Nhưng thỉnh thoảng, vào những đêm im gió, người trong thành vẫn nghe thấy tiếng mụ gào thét vọng lên từ dưới lòng đất. Mụ nguyền rủa tất cả mọi người. Chết đi. Chết hết đi.
Căn phòng im phăng phắc. Cánh quạt gãy ngoài kia kêu cót két một tiếng dài.
Hoàng cảm thấy lòng bàn tay mình lạnh buốt.
Chết đi… chết hết đi…
Hắn không nhớ mình đã nghe câu ấy ở đâu. Nhưng hắn biết chắc mình đã nghe. Không phải một lần, mà rất nhiều lần, trong bóng tối, trong những đêm choàng tỉnh dậy với tấm lưng ướt đẫm mồ hôi. Và tối hôm qua, ở tầng mười hai của tòa nhà đổ nghiêng, chính giọng nói ấy đã gọi hắn: Cứu tôi.
Mười tám năm trước.
– Mụ ấy… – Giọng Hoàng khàn đi. – Mụ ấy ngoài nguyền rủa ra, có bao giờ kêu cứu không?
Tres ngẩn ra.
– Kêu cứu? Em không biết. Người ta chỉ kể là mụ nguyền rủa thôi.
– Ngươi hỏi làm gì? – Clare lên tiếng từ góc phòng. Cô đã ngừng nhai từ lúc nào, đôi mắt nheo lại nhìn hắn chằm chằm.
Hoàng ngập ngừng. Hắn không biết nên kể đến đâu. Kể rằng hắn đã nghe giọng của một mụ yêu quái suốt ba tuần nay trong mơ? Kể rằng hắn bước qua một cánh cửa xanh để đi tìm chính mụ? Nghe thôi đã thấy giống người điên.
– Tôi… chỉ tò mò thôi. Tôi muốn biết thêm về tòa thành đó.
Clare nhìn hắn thêm một lúc, rõ ràng là không tin lấy một chữ. Nhưng cô không hỏi thêm.
– Muốn biết thì đi gặp ông kể chuyện. – Tres nhanh nhảu. – Ông ấy ngồi ở góc chợ Đá, trong thành ấy. Chuyện gì về tòa thành ông ấy cũng biết. Em dẫn anh đi!
– Không được. – Clare cắt ngang. – Lính tuần đang lùng ta khắp thành. Ta không vào được.
– Thì chị ở nhà. Em với anh Hoàng đi. Anh ấy mặc đồ thế này rồi, đâu ai nhận ra.
Clare liếc Hoàng, rồi liếc Tres, rồi thở dài thườn thượt như một bà cụ.
– Trước khi trời tối phải về. Và ngươi – cô chỉ vào Hoàng – đừng có mở miệng nói câu nào nghe như người bên ngoài.
Bước qua cổng thành, Hoàng có cảm giác như lạc vào một bộ phim cổ trang được quay bằng máy ảnh đen trắng, rồi ai đó tô lại bằng đúng bốn năm màu. Dũng mà ở đây chắc sướng phát điên. Cả một tấm bản đồ game chiến thuật bằng xương bằng thịt, chỉ thiếu mỗi cái nút lưu game.
Nhà cửa toàn bằng đá xám, mái lợp ngói đen, đường lát đá cuội mòn nhẵn. Người qua lại tấp nập, nhưng ai cũng mặc một màu: nâu, xám, đen, thỉnh thoảng mới có một người mặc màu xanh rêu hay đỏ sẫm. Không ai mặc áo có chữ, không ai mặc quần có túi sau, không ai đeo đồng hồ hay cầm điện thoại cúi gằm mặt. Có tiếng rao hàng, tiếng búa gõ trên đe, tiếng xe ngựa lọc cọc, tiếng trẻ con cãi nhau. Ồn ã, sống động, nhưng thiếu một thứ mà hắn mãi mới nhận ra: tiếng động cơ.
Hắn cúi gằm mặt, đi sát sau Tres, cố gắng không mở miệng câu nào. Gió lùa qua cái ống quần cũn cỡn, lạnh buốt cả mắt cá. Nếu chú Hùng mà thấy hắn trong bộ dạng này, chắc chắn sẽ chụp ảnh gửi vào nhóm gia đình kèm dòng chú thích "cháu tôi đi đóng phim", còn bố sẽ thả đúng một cái like rồi đi ngủ tiếp.
Chợ Đá nằm giữa lòng thành, một khoảng sân lớn lát đá xanh, quây quanh bởi những dãy sạp hàng. Ở góc chợ, dưới bóng một cây cổ thụ, một ông già râu tóc bạc trắng ngồi xếp bằng trên tấm chiếu rách, trước mặt là một cái bát sành mẻ miệng. Mấy đứa trẻ con và vài người đàn ông rảnh việc đang ngồi vây quanh, nghe ông kể một chuyện gì đó về một con rồng đá.
Đợi ông kể xong, Tres móc trong túi ra hai đồng xu đồng, thả vào cái bát sành. Tiếng xu kêu leng keng.
– Ông ơi, ông kể chuyện tòa thành cho anh cháu nghe với. Anh ấy ở quê lên, chưa biết gì.
Ông già nhướng đôi lông mày bạc trắng nhìn Hoàng. Ánh mắt ấy lướt qua bộ quần áo ngắn cũn cỡn, qua đôi bàn chân lóng ngóng trong đôi dép cỏ mượn, rồi dừng lại trên khuôn mặt hắn lâu hơn mức cần thiết một chút. Hoàng nín thở. Nhưng rồi ông già chỉ cười khà, vuốt râu.
– Chuyện tòa thành à. Chuyện ấy dài lắm đấy, chàng trai quê.
Chàng trai quê. Mười tám năm sống giữa lòng thành phố, đây là lần đầu tiên hắn bị gọi là dân quê. Hắn quyết định không cãi.
Ông hắng giọng, rồi bắt đầu kể, giọng trầm và chậm như tiếng nước chảy.
– Tòa thành này có từ bao giờ thì chẳng ai còn nhớ nổi. Ông nội của ông nội ta đã thấy nó đứng đấy rồi. Người ta bảo nó được xây từ thời các nguyên lão đầu tiên, ban đầu là pháo đài, về sau mới đào hầm làm nhà ngục. Mấy trăm năm nay, thành chủ đến rồi đi, tù nhân vào rồi ra, hoặc vào rồi không ra nữa. Chẳng có gì đáng để kể cho đến mười tám năm trước.
Ông ngừng một chút, như để người nghe kịp nín thở.
– Năm ấy, tòa thành có một vị thành chủ mới. Không ai biết ông ta từ đâu đến, chỉ biết là do các nguyên lão bổ nhiệm. Hôm ông ta vào thành, người ta thấy ông ta dẫn theo một cỗ xe ngựa đen phủ kín, bốn phía có lính canh. Trên xe là một tù nhân. Cỗ xe đi thẳng vào tòa thành, xuống thẳng hầm ngục, xuống tận tầng sâu nhất. Từ hôm ấy, chưa ai thấy cỗ xe ra, và cũng chưa ai thấy kẻ ngồi trong ấy thêm lần nào nữa.
– Mụ yêu quái tầng 6. – Tres thì thầm.
– Người ta gọi như thế. – Ông già gật gù. – Còn vị thành chủ thì từ đó cũng ít khi ló mặt. Việc trong thành do quan dưới quyền lo cả. Có người đồn ông ta ốm, có người đồn ông ta chết rồi, có người lại đồn ông ta chẳng làm gì ngoài việc ngồi canh cái tù nhân dưới tầng 6. Đồn thì nhiều, nhưng chẳng ai dám hỏi.
Ông ngừng một chút, nhấp một ngụm nước trong ống tre.
– Lần gần nhất người ta thấy thành chủ là bốn năm trước. Năm ấy, một buổi sáng, có tin khẩn báo về: một trạm gác ở biên giới phía bắc bị tập kích, cả đội lính chết sạch, kẻ tấn công để lại lời thách thức gửi thẳng tới thành chủ. Lần đầu tiên sau mười mấy năm, thành chủ phi ngựa ra khỏi thành. Từ đây đến biên giới phía bắc, ngựa tốt phi nước đại cũng mất nửa ngày đường.
Ông già ngừng lại, để cho người nghe kịp hiểu.
– Ông ta vừa đi được một canh giờ thì một nhóm người lẻn vào cướp ngục. Hóa ra cái tin khẩn kia chỉ là mồi nhử. Chúng không phải bọn tép riu, toàn những kẻ có năng lực ghê gớm. Chúng xuống tận tầng sâu, phá xích, phá cửa, đánh gục cả một đội lính canh, và đã ra được đến cổng hầm ngục.
Ông già đưa ngón tay gầy guộc chỉ về phía cuối khoảng sân, nơi cổng tòa thành sừng sững.
– Và thành chủ đã đứng chờ sẵn ở đó. Một mình. Chẳng ai hiểu ông ta về kịp bằng cách nào. Nửa ngày đường, mà ông ta đi về chưa đầy hai canh giờ.
Đám người nghe im phăng phắc, dù có lẽ ai cũng đã nghe chuyện này cả chục lần.
– Không ai biết chính xác chuyện gì đã xảy ra. Chỉ biết là trận đánh ấy không kéo dài quá thời gian uống một chén trà. Khi bụi lắng xuống, cả nhóm cướp ngục nằm la liệt trên sân đá, không một kẻ nào đứng dậy nổi. Còn thành chủ thì quay lưng đi vào trong, áo không dính lấy một hạt bụi. Đến lúc ấy người ta mới biết, vị thành chủ ít nói ấy là một chiến sĩ có Cương cao cấp, loại Cương mà cả trăm năm mới có một người.
Ông già nghiêng đầu về phía cổng thành.
– Ra đó mà xem, chàng trai quê. Vết nắm đấm của thành chủ vẫn còn đấy.
Hoàng quay lại nhìn. Trước cổng hầm ngục, giữa sân đá xanh, có một vết lõm sâu bằng cả chiếc bàn, từ đó những đường nứt tỏa ra tứ phía như một mạng nhện khổng lồ. Bốn năm mưa gió vẫn không xóa nổi.
Một nắm đấm. Chỉ một nắm đấm.
Hắn nuốt khan, nhớ lại cây gậy gỗ sồi gãy làm đôi trên tay mình. Tối qua hắn còn thấy thế là ghê lắm. Gậy gỗ sồi với sân đá xanh, nghe thôi đã thấy chênh nhau mấy cấp độ. Nếu đây là game của Dũng, hắn mới đang ở màn hướng dẫn, còn thành chủ là trùm cuối.
– Ông ơi. – Hắn buột miệng, quên béng lời dặn của Clare. – Mười tám năm nay, thành chủ có bao giờ rời khỏi tòa thành không?
Ông già nhìn hắn, lần này lâu hơn hẳn. Rồi ông khẽ lắc đầu.
– Chỉ đúng một lần, cái ngày cướp ngục ấy, mà chưa đầy hai canh giờ đã quay về. Ngoài lần đó ra thì chưa từng. Cứ như thể ông ta đang chờ ai đó vậy.
Hoàng im lặng một lúc. Tres giật giật vạt áo hắn, ra hiệu đi về. Nhưng hắn vẫn ngồi lì.
– Còn mụ yêu quái ấy. – Hắn hỏi. – Mụ tên gì hả ông? Trông mụ thế nào?
– Không ai biết. – Ông già lắc đầu. – Ngoài thành chủ ra thì chỉ có lính canh tầng 6 từng thấy mặt mụ, mà bọn họ thì chẳng bao giờ lên khỏi hầm để kể cho ai nghe.
– Thế mụ đã làm gì mà bị giam?
– Hỏi mười người thì có mười câu trả lời. – Ông già nhún vai. – Mà chuyện càng ghê rợn thì thường càng ít người tận mắt thấy.
– Thế mụ có năng lực gì không ông?
– À, cái này thì lời đồn nào cũng giống nhau. – Ông già gõ gõ ngón tay lên thái dương. – Người ta bảo mụ có Tâm.
– Tâm?
– Chàng trai quê chưa nghe bao giờ à? Cương đánh vào thân thể, còn Tâm đánh vào đầu óc. Kẻ có Tâm có thể khiến người khác làm điều hắn muốn, mà người ta còn tưởng đó là ý của chính mình.
Tres rụt cổ, xích lại gần Hoàng.
– Cho nên canh mụ không giống canh người thường. Lính canh tầng 6 phải là những kẻ đầu óc vững như đá, không được nhìn vào mắt mụ, không được đáp lời mụ, vài canh giờ lại phải đổi ca. Ta chỉ biết đến thế thôi. – Ông già khoát tay, như thể vừa lỡ lời. – Chuyện dưới đó, biết nhiều quá chẳng tốt lành gì.
Hoàng nghe mà da gà nổi lên khắp hai cánh tay.
Chui vào tâm trí người khác.
Hắn nghĩ đến những đêm choàng tỉnh giấc, đến thứ giấc mơ mà tỉnh dậy chẳng nhớ nổi gì ngoài một giọng nói. Nghĩ đến việc tối qua chân hắn cứ tự bước về phía tòa nhà đổ nghiêng, như thể có ai đó đang dắt đi. Những gì hắn đang làm, có thật là do hắn muốn không?
Hắn lắc mạnh đầu. Thôi, ít nhất thì vụ ăn liền ba củ khoai nướng trưa nay chắc chắn là ý của hắn. Cái đó thì không mụ yêu quái nào xui khiến được.
– Thế tiếng gào thét ban đêm…
– Cái đó thì có thật. Chính tai ta nghe. – Ông già hạ giọng, và lần đầu tiên trong buổi chiều hôm ấy, giọng kể chuyện trơn tru của ông khựng lại. – Mười mấy năm nay, mỗi năm chỉ nghe được vài lần. Nhưng mấy tuần gần đây thì khác. Đêm nào cũng có. Cứ như thể mụ vừa nhớ ra điều gì đó, hoặc vừa biết được điều gì đó.
Mấy tuần gần đây. Hoàng cảm thấy lưng mình lạnh toát.
– Có bao giờ… – Hắn ngập ngừng. – Có bao giờ mụ kêu cứu không ạ?
Ông già nhìn hắn rất lâu. Đám người ngồi nghe đã lục tục đứng dậy, chẳng ai còn để ý đến góc chợ dưới gốc cây cổ thụ nữa.
– Có người bảo có. – Cuối cùng ông nói, khẽ đến mức Hoàng phải nghiêng người mới nghe rõ. – Có người bảo xen giữa những tiếng nguyền rủa, thỉnh thoảng nghe thấy mụ gọi một cái tên. Nhưng chuyện đó không nên nói giữa chợ.
Ông cầm cái bát sành lên, dốc hai đồng xu của Tres vào lòng bàn tay, rồi bất ngờ dúi trả lại cho Hoàng.
– Câu chuyện hôm nay ta kể không lấy tiền. Về đi, trời sắp tối rồi. – Ông già nheo mắt, liếc xuống chân Hoàng. – Và lần sau nhớ tập đi dép cỏ cho quen, chàng trai quê. Đôi chân chưa từng xỏ dép cỏ thì mặc áo gì cũng không giấu được đâu.
Hoàng chết lặng. Đến khi hắn kịp ngẩng lên định hỏi thêm, ông già đã cuộn tấm chiếu rách, chống gậy lững thững đi khuất vào dòng người tan chợ.